Kỳ 1: Từ những “lớp học xuyên mây” đến quyết sách mở đường
Tháng Chín, Bản Máy đã vào thu. Buổi sớm, mây mù còn quấn quanh những triền núi sát đường biên, cái se lạnh của vùng cao theo những bước chân học trò đến lớp. Trên những con đường đất vốn trở nên trơn trượt mỗi mùa mưa, hành trình tìm đến con chữ của nhiều đứa trẻ nơi đây lại thêm phần vất vả. Nhìn học trò áo quần sờn vải, đôi bàn chân lấm bùn sau quãng đường đến trường, cô giáo Giàng Thị Ho, giáo viên Trường PTDTBT Tiểu học và THCS Bản Máy, không khỏi chạnh lòng.
Nhiều năm gắn bó với học sinh Bản Máy, điều khiến cô Ho day dứt nhất vẫn là những nhọc nhằn trên đường đến lớp và nguy cơ học trò bỏ học giữa chừng. Cô chia sẻ: “Mỗi mùa mưa đến, nhìn các con lội bùn, băng rừng mấy cây số đến lớp mà lòng tôi đau thắt. Thương nhất là nhiều em nhà nghèo, cái ăn chưa đủ nên tính chuyện bỏ học từ sớm để phụ gia đình làm nương rẫy. Đứng trên bục giảng, điều tôi đau đáu không chỉ là dạy các con con chữ, mà còn làm sao giữ được các em ở lại lớp, để việc học có thể mở ra cho các em một tương lai tốt hơn”.
Cô giáo Giàng Thị Ho, cùng các em học sinh Trường PTDTBT Tiểu học và Trung học cơ sở Bản Máy. Ảnh: Trình Thảo
Những điều cô Ho trăn trở cũng là cái khó của giáo dục ở nhiều địa bàn vùng cao biên giới. Đường xa, đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, học sinh ở phân tán tại các thôn, bản khiến việc đến trường và duy trì sĩ số không phải lúc nào cũng dễ dàng. Với những đứa trẻ nơi đây, một ngôi trường có đủ chỗ học, chỗ ăn, chỗ ở sẽ giúp hành trình đến với con chữ bớt nhọc nhằn hơn. Và xa hơn, khi trẻ em được học hành đến nơi đến chốn, cơ hội đổi thay cũng bắt đầu từ chính những bản làng nơi các em sinh ra.
Nhưng để những cơ hội ấy trở thành hiện thực, sự cố gắng của thầy và trò thôi chưa đủ. Giáo dục vùng biên cần những ngôi trường được đầu tư đồng bộ, nơi học sinh không chỉ có lớp học mà còn được bảo đảm điều kiện ăn, ở, sinh hoạt và rèn luyện. Đó không còn là câu chuyện xây thêm vài phòng học, mà là tạo dựng một môi trường để những đứa trẻ ở xa có thể yên tâm học tập, trưởng thành ngay trên quê hương mình.
Từ chính những yêu cầu của thực tiễn vùng biên, ngày 18/7/2025, Bộ Chính trị ban hành Thông báo kết luận số 81-TB/TW, về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới. Theo chủ trương này, 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS được đầu tư tại các xã biên giới đất liền trên cả nước. Một quyết sách lớn về giáo dục vùng biên từ đây bắt đầu được cụ thể hóa trên dải biên cương Tuyên Quang.
Tỉnh đề xuất xây dựng 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 17 xã biên giới. Trong đó, 6 trường thuộc giai đoạn 1 đang được đầu tư xây dựng tại: Thanh Thủy, Sơn Vĩ, Minh Tân, Phố Bảng, Pà Vầy Sủ và Xín Mần với tổng mức đầu tư 1.300,883 tỷ đồng. 11 trường còn lại đã rà soát, đăng ký, xác nhận danh mục đầu tư giai đoạn 2 tại: Bản Máy, Thàng Tín, Lao Chải, Tùng Vài, Nghĩa Thuận, Cán Tỷ, Bạch Đích, Thắng Mố, Sà Phìn, Lũng Cú và Đồng Văn, với tổng mức đầu tư dự kiến trên 2.976 tỷ đồng[1].
Hơn 4.276 tỷ đồng dành cho 17 ngôi trường không chỉ mở thêm cơ hội học tập, ăn ở và rèn luyện trong điều kiện tốt hơn cho con em đồng bào các dân tộc, mà còn cho thấy một cách đầu tư lâu dài vào con người, vào sức sống của bản làng và niềm tin của Nhân dân nơi biên giới. Từ những “lớp học xuyên mây” đến những ngôi trường nội trú liên cấp đang lần lượt thành hình là một bước chuyển trong cách chăm lo cho giáo dục nơi biên giới: không chỉ lo chỗ học trước mắt, mà đầu tư lâu dài cho con người; không chỉ dựng lên những mái trường, mà từ những mái trường ấy bồi đắp thêm sức sống cho bản làng và thế trận lòng dân nơi phên dậu Tổ quốc.
Kỳ 2: Từ quyết sách đến công trường “60 ngày đêm cao điểm”
Trở lại những ngày cuối tháng Bảy, khi mùa mưa đang phủ lên vùng cao biên giới Tuyên Quang, trên các công trường xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp, một cuộc chạy đua với thời gian đã bước vào chặng quyết liệt. Tranh thủ những khoảng trời vừa hửng sau mưa, máy xúc, máy cẩu lại hoạt động, từng tốp công nhân chia nhau các mũi thi công. Tất cả cùng hướng tới một mốc thời gian: đưa những ngôi trường đầu tiên vào sử dụng trong năm học mới.
Cuộc chạy đua ấy mang tên “Chiến dịch 60 ngày đêm cao điểm”, được tỉnh Tuyên Quang phát động nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng 6 trường phổ thông nội trú liên cấp tại Thanh Thủy, Sơn Vĩ, Minh Tân, Phố Bảng, Pà Vầy Sủ và Xín Mần. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành, nghiệm thu, đưa các công trình vào sử dụng trước ngày 30/8/2026. Trong quỹ thời gian chỉ tính bằng tuần, lại đúng mùa mưa vùng cao, bài toán đặt ra không chỉ là đẩy nhanh từng hạng mục xây dựng, mà còn phải tháo gỡ kịp thời những vướng mắc về mặt bằng, vật liệu, nhân lực và tổ chức thi công.
Để cuộc chạy đua ấy không chỉ dừng ở quyết tâm, từng phần việc được đặt vào một guồng vận hành cụ thể. Phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả được thực hiện xuyên suốt, những khó khăn phát sinh phải xử lý ngay tại hiện trường hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền trong vòng 24 giờ. Chủ đầu tư, nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, thiết bị, tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp”, các tổ công tác thường trực tại công trường để bám tiến độ, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh.
Nhịp độ ấy nhanh chóng hiện rõ trên từng công trường. Cuối tháng 7, tại Thanh Thủy, gần 300 công nhân cùng nhiều tổ máy liên tục thi công. Minh Tân huy động gần 450 công nhân triển khai nhiều mũi cùng lúc. Sơn Vĩ có hơn 300 công nhân, 12 hạng mục chính đều đã được triển khai. Những con số ấy cho thấy “60 ngày đêm” không phải một khẩu hiệu về tiến độ, mà được tính bằng từng ca làm việc, từng hạng mục và từng ngày còn lại trước năm học mới.
Các công nhân đẩy nhanh tiến độ dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp TH&THCS Thanh Thủy. Nguồn: Đức Thắng
Khi thời gian đến năm học mới chỉ còn tính bằng tuần, tiến độ từng công trình cũng được bám sát ngay tại hiện trường. Ngày 28/7, Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh trực tiếp kiểm tra Dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp TH&THCS Thanh Thủy. Cùng đi có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo HĐND, UBND tỉnh, một số sở, ngành và chính quyền địa phương. Khi ấy, công trình vẫn còn nhiều hạng mục đang thi công. Càng gần năm học mới, nhịp độ trên công trường càng được đẩy nhanh, tiến độ từng hạng mục được theo dõi sát sao.
Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh xem thiết kế tổng quan Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Thanh Thủy.
Nguồn: Báo Tuyên Quang
Những ngày nước rút, nhịp độ ấy không chỉ có ở Thanh Thủy. Tại Xín Mần, cùng với lực lượng thi công, cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh được tăng cường tới công trường, cùng gánh gạch, buộc thép, dựng giàn giáo, hỗ trợ hoàn thiện các hạng mục trước năm học mới. Trên công trường là những ca làm việc nối tiếp, phía sau là sự đôn đốc, phối hợp tháo gỡ những vướng mắc để công việc không bị ngắt quãng.
Cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh hỗ trợ thi công Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Xín Mần. Nguồn: Công an tỉnh Tuyên Quang.
“60 ngày đêm cao điểm” là chặng tăng tốc để những công trình đang xây dựng kịp về đích trước năm học mới. Cách làm “6 rõ” đã đẩy từng phần việc tiến gần hơn tới mốc khai giảng. Những dãy phòng học, khu nội trú, nhà ăn từng ngày hoàn thiện giữa vùng cao biên giới.
Cuối tháng Tám, cuộc chạy đua với thời gian của chiến dịch cao điểm đã gặt hái những quả ngọt đầu tiên. Những khối nhà cao tầng khang trang dần hiện hữu giữa ngàn mây, hạ tầng cơ bản tại các điểm trường đã hoàn thành, sẵn sàng cho ngày hội lớn. Sau những ngày công trường gồng mình vượt mưa núi và gian khó, tiếng máy xúc, máy cẩu rộn rã giờ đây nhường chỗ cho sự tĩnh lặng bình yên trước ngày tựu trường.
Thước đo thực sự của “60 ngày đêm cao điểm” không chỉ nằm ở những con số phần trăm tiến độ. Nó nằm ở niềm tin được thắp sáng trong mắt người dân bản địa, ở sự thấu hiểu và đồng lòng giữa “Ý Đảng” và “Lòng dân” nền tảng vững chắc nhất để mở ra một chương mới cho giáo dục nơi vùng biên Tuyên Quang.
Kỳ 3: Những “cột mốc mềm” mở lối tương lai
Sáng 5/9, tiếng trống khai trường vang lên giữa những xã vùng cao biên giới Tuyên Quang. Với thầy trò Thanh Thủy và Minh Tân, ngày khai giảng năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt: hai ngôi Trường Phổ thông nội trú liên cấp đã hoàn thành 100% khối lượng, được bàn giao và đưa vào sử dụng. Tại Thanh Thủy, lễ khai giảng năm học 2026-2027 cũng là ngày ngôi trường mới chính thức được cắt băng khánh thành. Những phòng học mới, khu nội trú, nhà ăn, sân chơi đã đón học sinh. Riêng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Thanh Thủy bước vào năm học mới với 1.078 học sinh, trong đó 573 em nội trú và 505 em bán trú. Trước ngày khai giảng, nhà trường đã vận hành thử cơ sở vật chất, trang thiết bị, khu nội trú, nhà ăn để chuẩn bị cho việc dạy, học và sinh hoạt trong mô hình mới.
Nhưng tiếng trống khai trường ngày 5/9 chưa khép lại câu chuyện xây trường nơi biên giới. Tại Pà Vầy Sủ, Sơn Vĩ, Xín Mần và Phố Bảng, các hạng mục chính đã được hoàn thành để phục vụ năm học mới, những phần việc còn lại tiếp tục được triển khai. Xa hơn một chặng, 11 trường thuộc giai đoạn 2, đồng loạt khởi công ngày 19/3/2026, đang tiếp tục được xây dựng, hướng tới mốc hoàn thành trong năm 2027.
Bản Máy là một trong những nơi đang đi tiếp hành trình ấy. Ngôi trường mà cô giáo Giàng Thị Ho từng mong mỏi chưa thể đón học sinh trong mùa khai giảng này, nhưng từ ngày khởi công tháng 3, công trình mới đã bắt đầu thành hình. Để có thêm 2,34 ha mặt bằng thực hiện dự án, 13 hộ dân thôn Bản Máy đã nhận bồi thường, hỗ trợ theo phương án được phê duyệt và bàn giao đất[2]. Trong số đó có gia đình bà Hoàng Thị Liên. Khi phần đất gắn với sinh kế của gia đình nằm trong diện thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng bà Liên không tránh khỏi băn khoăn. Sau khi được cán bộ giải thích về phương án bồi thường và mục đích của dự án, gia đình bà đã đồng thuận. Bà chia sẻ: “Được cán bộ tuyên truyền, giải thích, gia đình tôi hiểu và hoàn toàn nhất trí với phương án bồi thường. Trẻ con ở đây đi học còn vất vả, nên có được ngôi trường mới khang trang, có chỗ học, chỗ ăn, chỗ ở tốt hơn cho các cháu thì gia đình rất ủng hộ.”
Bà Hoàng Thị Liên, thôn Bản Máy, chia sẻ về việc gia đình đồng thuận với phương án bồi thường để thực hiện dự án. Ảnh: Trình Thảo
Sự đồng thuận của gia đình bà Liên cho thấy “lòng dân” không bắt đầu từ những lời nói lớn lao, mà từ khi người dân hiểu rõ chủ trương và nhìn thấy lợi ích lâu dài dành cho con em mình. Chính từ những điều cụ thể ấy, niềm tin đối với một quyết sách được bồi đắp từng ngày.
Cũng tại Bản Máy, cô giáo Giàng Thị Ho vẫn mong chờ ngày ngôi trường mới hoàn thành, đón những học sinh đầu tiên vào học. Cô chia sẻ: “Mỗi ngày nhìn máy móc hoạt động, công trình dần hình thành, chúng tôi lại thấy ngôi trường mơ ước của thầy trò ngày một gần hơn. Chỉ mong công trình sớm hoàn thành để các em học sinh Bản Máy có điều kiện học tập, ăn ở tốt hơn, nhất là các em ở những bản xa bớt vất vả trong việc đi lại.”
Từ ngôi trường đã đón học sinh ở Thanh Thủy đến công trình đang từng ngày thành hình ở Bản Máy là hai chặng khác nhau của cùng một quyết sách. Một nơi những đổi thay đã hiện hữu, một nơi vẫn đang được chờ đợi. Khoảng cách ấy cho thấy hành trình đưa quyết sách đến với trẻ em vùng biên cần phải được nối dài và quyết liệt hơn nữa. Chỉ khi những ngôi trường ấy đồng loạt sáng đèn, giá trị thực sự của quyết sách mới được phát huy trọn vẹn, vượt xa tầm vóc của những công trình hạ tầng thuần túy. Việc học sinh được nuôi dưỡng, học tập trong điều kiện tốt hơn chính là cách hiệu quả nhất để đẩy lùi nguy cơ bỏ học, hạn chế tảo hôn, kết hôn cận huyết, những vấn đề vẫn còn đặt ra ở một số địa bàn vùng cao. Với học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh nữ, cơ hội được học tập đầy đủ hơn cũng mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, hình thành kỹ năng, sự tự tin và khả năng lựa chọn con đường tương lai cho chính mình.
Đó cũng chính là chiều sâu nhân văn và tầm nhìn chiến lược trong thông điệp về những “cột mốc mềm”[3] giáo dục mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã gửi gắm. Phát biểu tại lễ khởi công các trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới, Tổng Bí thư nhấn mạnh: Những ngôi trường khi hoàn thành và đưa vào vận hành hiệu quả sẽ trở thành những “cột mốc mềm” giữ đất, giữ bản góp phần quan trọng vào đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững và thắp sáng niềm tin về một tương lai tươi sáng trên dải biên cương của Tổ quốc.
Để những “cột mốc mềm” ấy thực sự mở lối tương lai, xây được trường mới chỉ là bước đầu. Hành trình tiếp theo đòi hỏi phải được thực hiện đồng bộ, quyết liệt và thực chất trên cả 3 trụ cột:
Trước hết, giữ vững chất lượng và an toàn công trình: Tiếp tục bám sát tiến độ hoàn thiện các công trình nhưng tuyệt đối không đánh đổi chất lượng. Những hạng mục còn lại phải được thi công chặt chẽ, bảo đảm an toàn và hoàn thành đúng kế hoạch. Với 11 trường giai đoạn 2, cách làm “6 rõ”, bám sát công trường, kịp thời tháo gỡ vướng mắc từ cơ sở cần tiếp tục được duy trì, để tiến độ luôn đi cùng chất lượng trong từng hạng mục.
Hai là, vận hành đồng bộ và hiệu quả: Cơ sở vật chất khang trang phải đi cùng với việc chuẩn bị đầy đủ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, trang thiết bị dạy học và các điều kiện phục vụ ăn, ở, chăm sóc sức khỏe cho học sinh nội trú. Thực tiễn vận hành tại Thanh Thủy và Minh Tân cần được theo dõi, kịp thời rút kinh nghiệm để những ngôi trường tiếp theo khi hoàn thành có thể phát huy hiệu quả ngay từ những ngày đầu đưa vào sử dụng.
Ba là, lấy sự trưởng thành của học sinh làm thước đo lâu dài: Giá trị cuối cùng của những ngôi trường phải được thể hiện ở việc học sinh được học tập tốt hơn, trưởng thành hơn và có thêm cơ hội cho tương lai. Cùng với nâng cao chất lượng dạy học, cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, chính quyền và gia đình trong vận động học sinh đến lớp, để ngày càng có thêm những học sinh vùng cao được ở lại với trường lớp điều cô giáo Giàng Thị Ho đã đau đáu từ những ngày đứng lớp ở Bản Máy.
Mười bảy ngôi trường ở 17 xã biên giới Tuyên Quang vì thế đang ở những điểm khác nhau trên cùng một hành trình: có nơi đã đón học sinh, có nơi còn những hạng mục tiếp tục hoàn thiện, có công trường đang từng ngày thành hình. Nhưng đích đến cuối cùng không phải là thêm bao nhiêu phòng học hay hoàn thành bao nhiêu công trình, mà là những thay đổi mà các ngôi trường ấy đem lại cho trẻ em và vùng đất biên giới. Đầu tư cho những ngôi trường vùng biên, xét đến cùng, là đầu tư cho con người và tương lai của chính vùng đất ấy.
Những đứa trẻ hôm nay được học tập, chăm sóc và nuôi dưỡng trong điều kiện tốt hơn sẽ có thêm cơ hội tiếp tục con đường học vấn, lựa chọn nghề nghiệp và tự tin bước vào tương lai. Từ những mái trường nơi biên giới, mai này có thể thành những bác sĩ, kỹ sư, thầy cô giáo, chiến sĩ biên phòng hay những người trẻ mang tri thức trở về góp sức dựng xây bản làng. Những “cột mốc mềm” vì thế không chỉ hiện diện trong những lớp học, khu nội trú hay cơ hội được mở ra cho trẻ em vùng cao, mà còn được bồi đắp bằng niềm tin và sự đồng thuận của người dân nơi biên giới. Khi những cánh cửa trường mở ra cũng là lúc một lối đi rộng hơn vào tương lai được mở từ chính nơi phên dậu của Tổ quốc./.
Nhóm tác giả: Trần Hồng Minh, Trình Thị Thu Thảo
Ban Xây dựng Đảng xã Thái Bình
Tài liệu tham khảo
1. Báo Giáo dục Thủ đô (2025), “Điểm tựa tri thức nơi biên cương Tổ quốc”, ngày 13/11/2025.
2. Báo Tuyên Quang Online https://baotuyenquang.com.vn/van-hoa/giao-duc/202607/tang-toc-xay-truong-noi-bien-gioi-e8a4b99/?utm_source=chatgpt.com.
3. Bộ Chính trị (2025), Thông báo số 81-TB/TW về xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã biên giới, Hà Nội.
4. Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang: https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/cac-dong-chi-lanh-dao-tinh-du-le-dong-tho-truong-pho-thong-noi-tru-lien-cap-tieu-hoc-va-thcs-tai-cac-xa-bien-gioi?id=217665&type=NEWS
5. Phát biểu của Tổng Bí thư tại lễ khởi công xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 121 xã biên giới đất liền.
6. UBND tỉnh Tuyên Quang (2026), QUYẾT ĐỊNH số: 1510/QĐ-UBND ngày8/6/2026 Về việc phê duyệt dự án đầu tư công khẩn cấp Xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Bản Máy.
7. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2025), Quyết định số 990/QĐ-UBND ngày 21/10/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng 6 dự án Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại các xã biên giới Tuyên Quang.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2025), Quyết định số: 381/QĐ-UBND ngày 25/2/2026 về việc phê duyệt đề án “phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh tuyên quang”.
[1] Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2025), Quyết định số 990/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2025 phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng 6 dự án Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại các xã biên giới Tuyên Quang.
[2] Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang: https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/cac-dong-chi-lanh-dao-tinh-du-le-dong-tho-truong-pho-thong-noi-tru-lien-cap-tieu-hoc-va-thcs-tai-cac-xa-bien-gioi?id=217665&type=NEWS
[3] Phát biểu của Tổng Bí thư tại lễ khởi công xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 121 xã biên giới đất liền.